Tổ chức đoàn thể | Thư viện Media | Hợp tác quốc tế
Hotline:
0287.1060.222 - 096.152.9898 - 093.851.9898
| Email:[email protected]

Cẩm nang tuyển sinh

Cần dỡ bỏ chương trình Văn vì không nước nào có môn Ngữ Văn?

Cập nhật: 21/06/2018 14:37
Người đăng: Vũ Duyên | 1414 lượt xem

Chương trình môn Ngữ Văn vẫn luôn là đề tài muôn thuở để tranh cãi. Về cả phương pháp giảng dạy như thế nào để đạt hiệu quả hay phân phối chương trình Ngữ Văn như thế nào để mang lại chất lượng giáo dục cao nhất cũng là điều đáng để bàn luận.

Đổi mới chương trình Ngữ Văn

Đổi mới chương trình Ngữ Văn

Xây dựng chương trình mở cho môn Ngữ Văn

Từ lâu đã có không ít ý kiến cho rằng cần phải dạy môn Văn theo hướng mở để phát huy khả năng của học sinh, để môn văn trở về đúng nghĩa của nó tránh sự gò bó nhưung bên cạnh đó có một số ý kiến lo rằng độ mở của chương trình quá lớn sẽ khó kiểm soát, khó đảm bảo sự thống nhất giữa các SGK.

Thực ra, việc xây dựng CT mở, linh hoạt, mềm dẻo là yêu cầu của Nghị quyết 29 của Trung ương Đảng, Nghị quyết 88 của Quốc hội và Quyết định 404 của Thủ tướng Chính phủ: “Chương trình mới phải xác định cụ thể nội dung và yêu cầu cần đạt đối với mỗi lớp nhưng không quá chi tiết để căn cứ vào chương trình biên soạn được nhiều sách giáo khoa”. Nếu CT quy định cụ thể, chi tiết đến từng tác phẩm văn học hoặc trích đoạn tác phẩm ở từng lớp thì sẽ khó thực hiện chủ trương “một  chương trình, nhiều SGK”, đa dạng hóa SGKcủa Nghị quyết 88. Đây cũng là xu thế chung về CT môn học này của các nước có nền giáo dục phát triển.

Có ý kiến đề nghị chỉ nên mở khoảng 20% - 25% thôi. Chúng tôi cho rằng, nếu ai đó có ý định đưa tác phẩm có hại vào SGK thì CT chỉ cần mở 5% cũng luồn vào được.

Nhưng “kiểm soát” điều này không khó, vì để xuất bản được, SGK phải qua nhiều“lưới lọc”.

Trước hết, việc lựa chọn tác phẩm phải tuân thủ các tiêu chí đã quy định ngay trong CT môn học. Thứ hai, SGK phải tuân thủ các tiêu chuẩn SGK được quy định tại Thông tư số 33 của Bộ GD-ĐT. Tiếp theo, SGK phải qua biên tập của nhà xuất bản.

Cuối cùng, SGK phải được Hội đồng quốc gia thẩm định SGK xem xét, thông qua thì mới có thể được xuất bản. Đó là chưa kể tất cả các SGK đều chịu sự đánh giá, sàng lọc của giáo viên (GV) và học sinh (HS) trong khi sử dụng.

Quy định học “6 tác phẩm bắt buộc”

Một số ý kiến đề nghị mở rộng thêm số tác phẩm bắt buộc vì cho rằng 6 tác phẩm chỉ nghiêng về chủ đề, cảm hứng yêu nước và nhân đạo, chưa đa dạng về thể loại, phần lớn là tác phẩm trung đại.

Thực ra, quy định 6 tác phẩm bắt buộc cũng là để điều chỉnh độ mở của CT, bảo đảm những tác phẩm đỉnh cao này của văn học dân tộc có mặt trong SGK Ngữ văn của bất kì tổ chức, cá nhân nào. Đúng là 6 tác phẩm này nghiêng về chủ đề, cảm hứng yêu nước và nhân đạo, chưa đa dạng về thể loại. Nhưng ngoài 6 tác phẩm có vị trí rất đặc biệt này, với trên 2.500 giờ Ngữ văn từ lớp 1 đến lớp 12, SGK còn phải dạy hàng trăm tác phẩm, trích đoạn tác phẩm nữa với nhiều chủ đề, nhiều thể loại khác nhau, tạo thành hệ thống tri thức văn học hoàn chỉnh. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ lắng nghe các ý kiến khác nhau và sẽ tiếp tục nghiên cứu để lựa chọn giải pháp bảo đảm CT vừa có độ mở, vừa đáp ứng được các yêu cầu cốt lõi của học vấn phổ thông.

Mối quan hệ giữa nội dung “phần Tiếng Việt” với “phần Văn học”

Đổi mới chương trình Ngữ Văn

Đổi mới chương trình Ngữ Văn

Do hiểu các kỹ năng giao tiếp (đọc, viết, nói và nghe) quá hẹp nên một số người cho rằng CT nặng về “tiếng” mà nhẹ về “văn”. Thực tế không phải như vậy.

Một CT giáo dục theo định hướng phát triển năng lực phải xuất phát từ các yêu cầu cần đạt về năng lực của học sinh (HS) để xác định nội dung dạy học.Với môn Ngữ văn, năng lực phải được và chỉ được thể hiện qua các hoạt động đọc, viết, nói và nghe (có nước thêm kỹ năng nhìn -viewing và trình bày- presenting). Các kỹ năng này cần được hiểu theo nghĩa rộng, chẳng hạn: Đọc không chỉ là đọc thành tiếng, đọc thầm mà còn là đọc diễn cảm, đọc hiểu, đọc thẩm mỹ, đọc sáng tạo. Đọc hiểu không chỉ là nắm được thông tin khách quan, bề nổi; thông tin hàm ẩn, chìm khuất sau câu chữ văn bản (thông điệp nằm trên, giữa và ngoài dòng chữ), mà hiểu còn là sự vỡ ra, thấu hiểu con người, sự việc trong văn bản; quan trọng hơn là còn là hiểu ra, ngộ ra về chính bản thân mình; từ đó mà buồn hay vui;yêu thương hay căm giận, … Giáo dục nhân cách, bồi dưỡng tình cảm qua văn học cũng từ đây mới lâu bền và sâu sắc.

Nói cách khác, nhiệm vụ, chức năng và sứ mệnh cao cả của dạy học Ngữ văn trong giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm con người chỉ được thực hiện tốt thông qua việc đọccủa HS. Thông qua đọc và bằng việc đọc của chính người học, mọi sự giáo dục ở môn học này đều kém hiệu quả. Đánh giá năng lực Ngữ văn lại cũng phải căn cứ vào kết quả đọc, viết. HS phải nói ra, viết ra nội dung hiểu của mình qua đọc một văn bản nào đó. Nếu không hiểu trực tiếp qua đọc, HS chỉ có thể nói vu vơ và chép lại văn mẫu. Ngoài ra, một yêu cầu khác quan trọng không kém yêu cầu hiểu là cách đọc. Phải hình thành và phát triển cho HS năng lực biết đọc để các em có thể tự khám phá, tự đọc và học suốt đời.

Như thế dạy đọc nêu trong dự thảo CT chính là dạy văn, thay cho hoạt động thầy giảng văn cho HS nghe lâu nay, chứ không đơn giản là dạy tiếng Việt. Để phát triển năng lực đọc, thầy giúp cho HS biết cách đọc qua một tác phẩm cụ thể. VàHS cũng không chỉ cần đọc hiểu văn bản văn học, mà trong cuộc sống các em phải tiếp xúc, phải đọc rất nhiều văn bản thông tin và  văn bản nghị luận. Với ý nghĩa đó, CT lấy 4 kỹ năng làm trục để phát triển năng lực giao tiếp và năng lực thẩm mỹ, nhân văn.

Quan hệ giữa kỹ năng và kiến thức

Một số ý kiến đề nghị bổ sung chuẩn kiến thức bên cạnh các chuẩn kỹ năng; tăng thêm kiến thức về lịch sử văn học.

CT giáo dục theo định hướng phát triển năng lực coi trọng mục tiêu “HS làm được gì?”, chứ không phải “HS biết những gì?”.

CT Ngữ văn hiện hành và các CT trước đây theo định hướng nội dung nên thường chú trọng trang bị kiến thức lý luận, kiến thức văn học sử cho đầy đủ, và khi triển khai thành SGK thường biên soạn thành các bài lý luận, văn học sử rất hàn lâm, nặng nề. CT lần này chỉ dạy những kiến thức văn học sử giúp cho HS đọc hiểu tác phẩm tốt hơn, đáp ứng các yêu cầu cần đạt như: “Biết vận dụng hiểu biết về lịch sử văn học Việt Nam để đánh giá, phê bình văn bản văn học”, “Biết vận dụng kiến thức về lịch sử văn học và kỹ năng tra cứu để sắp xếp các tác phẩm, tác giả theo tiến trình lịch sử văn học; biết đặt tác phẩm trong bối cảnh sáng tác và bối cảnh hiện tại để có đánh giá phù hợp”. CT quy định đến cuối cấp THCS và THPT, HS cần có hiểu biết “Sơ giản về lịch sử văn học và vai trò của kiến thức nền về lịch sử văn học trong đọc hiểu VB”. Như thế có nghĩa là cần phải khái quát, hệ thống hóa tiến trình lịch sử văn học, tác giả, tác phẩm lớn trong các giai đoạn bằng các hình thức khác nhau một cách sinh động, nhẹ nhàng. Nhưng đấy là việc của SGK.

Đề nghị “dỡ ra làm lại CT”

Đề nghị đổi mới chương trình Ngữ Văn

Đề nghị đổi mới chương trình Ngữ Văn

Trong tọa đàm, có ý kiến cho rằng chương trình môn Ngữ văn phải “dỡ ra làm lại” vì trên thế giới không nước nào có môn Ngữ văn.

Là những người nghiên cứu CT giáo dục phổ thông hàng chục năm nay và có trong tay CT của hầu hết các nước có nền giáo dục tiên tiến, chúng tôi khẳng định là không nước nào không có môn Ngữ văn. Trung Quốc gọi tên môn học này là Ngữ văn. Các nước nói tiếng  Anh gọi là English, các nước nói tiếng  Pháp gọi là Francais,… nhưng đó không đơn thuần là dạy tiếng  Anh hay tiếng  Pháp mà là dạy ngôn ngữ và văn học Anh, Pháp,... Nếu tách môn Ngữ văn thành 2 môn, tách CT Ngữ văn thành 2 CT thì cần thêm bao nhiêu giáo viên? Quan trọng hơn, điều đó trái với tinh thần tích hợp của CT mới, đồng thời không phù hợp với đặc trưng của văn học là nghệ thuật ngôn từ.

Việc góp ý, nhận xét của mọi tầng lớp trong xã hội là cần thiết và có ích cho Ban soạn thảo trong việc hoàn thiện CT. Với tinh thần đó, chúng tôi trân trọng tất cả các đóng góp cho dự thảo, đồng thời sẵn sàng giải trình về các vấn đề chưa có ý kiến thống nhất để đạt đến sự đồng thuận cao hơn.      

PGS Đỗ Ngọc Thống

Trường Cao đẳng Y dược Sài Gòn sửa lại tiêu đề

 

Tin Liên quan

Trường Cao đẳng Y Dược Sài Gòn

Trường Cao đẳng Y Dược Sài Gòn được thành lập theo Quyết định số 935/QĐ-LĐTBXH ngày 18/07/2008 của Bộ trưởng Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội, với nhiệm vụ đào tạo chuyên sâu nguồn nhân lực y tế.

  Cơ sở 1: Toà nhà : PTT - Đường số 3- Lô số 07, Công viên phần mềm Quang Trung, Phường: Tân Chánh Hiệp, Quận: 12, TP.HCM

  Cơ sở 2: Số 1036 Đường Tân Kỳ Tân Quý Tổ 129, Khu phố 14,  Phường: Bình Hưng Hòa, Quận: Bình Tân, TP.HCM ( Ngã 3 đèn xanh đèn đỏ giao giữa đường Tân Kỳ Tân Quý và Quốc lộ 1A).

  Website: caodangyduochcm.vn

  Email: [email protected]

  Điện thoại: 0287.1060.222 - 096.152.9898 - 093.851.9898

  Ban tư vấn tuyển sinh: 0338293340 - 0889965366

LIÊN KẾT MẠNG XÃ HỘI
DMCA.com Protection Status
0961529898